|
Chuyển từ khu C về đồng bằng và góp phần khắc phục hậu quả lũ lụt
Do những thắng lợi quan trọng trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao của nhân dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc, ngày 31 tháng 3 năm 1968, đế quốc Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và từ ngày 1 tháng 11 năm 1968 phải ngừng đánh phá miền Bắc. Trước tình hình mới, ngày 4 tháng 1 năm 1969, được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên, trường ĐHBK Hà Nội quyết định từng bước chuyển dần từ khu C về đồng bằng và Hà Nội.
Bước đầu, các khoa chuyển về Hà Bắc (Từ Sơn, Hiệp Hoà), Hải Hưng (Yên Mỹ, Ân Thi), riêng khoa Hoá và khoa Điện đến cuối năm 1969 mới rút hết vì còn nhiệm vụ giúp Trường thu hồi, vận chuyển nguyên vật liệu về Hà Nội. Cùng lúc, mỗi khoa đều có một bộ phận nhỏ về Hà Nội trước làm tiền trạm.
Trở về đồng bằng là một quyết định đúng đắn, nhưng cũng từ quyết định này, chúng ta phải giải quyết biết bao vấn đề mới phát sinh. Không có cách nào khác, cán bộ, sinh viên toàn trường lao động khẩn trương bắt tay tạo dựng cơ sở học tập và tổ chức đời sống tại những khu sơ tán mới chuyển về. Đồng thời với việc nhanh chóng ổn định giảng dạy, học tập, còn phải lo toan hậu cần cho 1.000 cán bộ, 3.500 sinh viên chính quy K11, K12, K13 và một số lớp K9, K10 chưa ra công tác cùng 2.000 nhân khẩu thuộc 447 hộ gia đình cán bộ.
Lúc đó, trường ĐHBK Hà Nội phân tán ở 4 nơi: khu A (Hà Nội), khu B (Hà Bắc), khu C (Lạng Sơn), khu Đ (Hải Hưng). Đời sống cán bộ, sinh viên gặp nhiều khó khăn. Do đó, Lãnh đạo trường coi công tác đời sống là nhiệm vụ trung tâm đột xuất. Trường cử hẳn một Phó Hiệu trưởng đảm nhận công tác này kể cả việc sắp xếp các khu sơ tán. Mỗi khoa đều có riêng một Phó Chủ nhiệm khoa phụ trách đời sống và quản lý sơ tán.
Mãi tới năm1970, toàn trường mới tập trung hết về Hà Nội. Việc ăn ở của gần 7.000 sinh viên các hệ tập trung, tại chức, dự bị đại học, cán bộ công nhân viên và gia đình trở nên rất cấp bách. Nhà trường phải tận dụng 2.000 tấn gỗ, tre nứa từ khu C chở về để xây dựng nơi ăn ở, lớp học cho cán bộ, sinh viên.
Cũng trong năm học 1970-1971, Bộ Đại học và THCN chủ trương tổ chức tuyển sinh qua kỳ thi tuyển quốc gia tại các tỉnh, thành phố (trước đó do địa phương tuyển chọn và cử đi học). Thực hiện chủ trương này, gần 1.000 thầy, trò Bách Khoa lên đường vào Thanh Hoá làm công tác tuyển sinh.
Ngoài ra, hàng trăm đoàn sinh viên của Trường đã đến các nhà máy, công trường, cơ sở quân đội để phục vụ kịp thời các yêu cầu cấp thiết của xã hội và an ninh quốc phòng.
Năm 1971, miền Bắc bị thiên tai nặng nề, Trường đã huy động toàn thể cán bộ, sinh viên tham gia chống lũ lụt cùng với các đơn vị bộ đội hàn khẩu quãng đê Cống Thôn trên sông Đuống. Vào giai đoạn cuối, khi bộ đội rút đi làm nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch thì cán bộ, sinh viên Bách Khoa tự đảm nhiệm hết các công việc. Chính cán bộ và sinh viên Bách Khoa là những người ném những tảng đá cuối cùng ngăn dòng nước hung dữ, cứu người, cứu ruộng đồng, nhà cửa của nhân dân địa phương.
Trong thời gian gần 3 tháng, từ cuối tháng 8 đến giữa tháng 11 năm 1971 thầy trò Bách Khoa đã gia cố nhiều quãng đê và thu nhặt được hàng chục ngàn tấn thiết bị, vũ khí bị hư hại do nước ngập. Nhiều góc sân, hành lang của Trường đã biến thành các công xưởng nhỏ sửa chữa, bảo dưỡng số thiết bị vũ khí thu được, hoạt động liên tục từ sáng sớm đến tận đêm khuya.
Sơ tán lần thứ hai
Bị thua đậm trên chiến trường miền Nam, ngày 6 tháng 4 năm 1972, lần thứ hai đế quốc Mỹ đánh phá trở lại miền Bắc và từ ngày 16 tháng 4 ném bom dữ dội Hà Nội. Ngày 29 tháng 4 năm 1972, Hội đồng Chính phủ có Nghị quyết 83/CP đề ra nhiệm vụ cho các trường tổ chức thầy trò thành đội ngũ để lao động sản xuất hoặc phục vụ chiến đấu theo ngành nghề, trình độ kỹ thuật.
Vừa ổn định ăn ở, học tập chưa đầy 2 năm, trường ĐHBK Hà Nội một lần nữa lại phải sơ tán triệt để đến các huyện Từ Sơn, Hiệp Hoà thuộc tỉnh Hà Bắc và các huyện Khoái Châu, Ân Thi thuộc tỉnh Hưng Yên. Thầy trò lại tự xây dựng lớp học, phòng thí nghiệm để tiếp tục giảng dạy, học tập, chuẩn bị lực lượng cán bộ cho ngày chiến thắng. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, ngoài việc đảm bảo công tác đào tạo, NCKH, Trường còn động viên 3.000 cán bộ và sinh viên tích cực tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Trong 2 năm 1972, 1973 các đoàn cán bộ và sinh viên của Trường đi nghiên cứu phục vụ ở 16 Bộ, Tổng cục, các Ủy ban ngang Bộ, 12 tỉnh thành, 80 xí nghiệp trung ương, địa phương và các đơn vị quân đội. Riêng trong Bộ Quốc phòng, cán bộ và sinh viên đã đến công tác ở 8 cục (Quân giới, Quân y, Quản lý xe, Quản lý xăng dầu, Quân nhu, Vật tư, Quân khí, Nghiên cứu kỹ thuật) và 3 quân binh chủng (Phòng không - Không quân, Pháo binh, Thông tin). Ngoài ra, các khoa và bộ môn còn tổ chức được 30 nhóm NCKH tại trường giải quyết các yêu cầu sản xuất và chiến đấu của các cơ sở, địa phương, các Bộ, Ngành.
² Cùng với các chuyên gia, kỹ thuật viên của Bộ Giao thông và Bộ Quốc phòng, tập thể gồm một số nhà giáo, nhà khoa học của Bách Khoa Hà Nội về các lĩnh vực Vật lý chất rắn, Tự động hoá, Vô tuyến điện... đã nghiên cứu thành công phương pháp và tổ chức triển khai rà, phá bom từ tính và thuỷ lôi từ trường do đế quốc Mỹ phong toả tại Cảng Hải Phòng, các cửa sông, cửa biển và một số đường giao thông huyết mạch gọi tắt là GK1. Thành công này góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu của địch hòng ngăn chặn đường tiếp tế của quân dân ta trong năm 1972, 1973.
Kết thúc đề tài, các thầy giáo Vũ Đình Cự, Bùi Minh Tiêu được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai, các thầy giáo Nguyễn Bính, Nguyễn Trọng Quế, Đoàn Nhân Lộ và kỹ sư Đào Đức Thành được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Năm 1998, công trình tập thể này của các đơn vị được Nhà nước tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1.
² Thầy trò khoa Vô tuyến điện sửa chữa, phục hồi kịp thời 4 hệ thống thông tin vi-ba của Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, đảm bảo cho làn sóng phát thanh hoạt động thông suốt, nhất là trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" cuối tháng 12 năm 1972, đã góp phần làm thất bại âm mưu của giặc Mỹ hòng phá hỏng hệ thống thông tin liên lạc của ta trên toàn quốc và với thế giới bên ngoài.
² Một nhóm cán bộ của Trường đã nghiên cứu lực rung của hạt nổ đạn pháo, nhờ đó làm tăng hiệu quả tiêu diệt sinh lực địch trên chiến trường.
² Trường kết hợp với quân đội nghiên cứu thiết kế phương án, quy trình lắp đặt, vận hành và bảo quản hệ thống đường ống dẫn dầu để đưa xăng dầu từ miền Bắc vào tận Trường Sơn và xa hơn nữa, phục vụ cho chiến đấu ở quy mô lớn.
² Từ đầu năm 1971 đến đầu năm 1972, một nhóm cán bộ giảng dạy bộ môn Hoá lý đã nghiên cứu thành công đề tài "Chế tạo van, khớp nối đường ống dẫn xăng dầu bằng bạc graphít" được Bộ trưởng Bộ Đại học và THCN tặng Bằng khen...
Vào cuối năm 1972, Trường được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng lẵng hoa. Bốn tập thể và 6 cá nhân được trao tặng Huân chương về thành tích phục vụ sản xuất, chiến đấu và khắc phục hậu quả lũ lụt.
Trong niềm vui chiến thắng hoàn toàn giải phóng miền Nam
Sau chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, Hiệp định Pari được ký kết, Trường được phép rút về Hà Nội ngay từ mùa Xuân 1973. Mặc dù trong hoàn cảnh rất khó khăn, thiếu thốn, nhưng mọi người vẫn nỗ lực phấn đấu để hoàn thành trọn vẹn công tác học kỳ 2 năm học 1972-1973 và chuẩn bị cho năm học 1973-1974.
Lãnh đạo Nhà trường đã có những chủ trương, biện pháp tích cực để đáp ứng nhu cầu vật chất phục vụ đào tạo, hạn chế khó khăn và cải thiện đời sống. Tổ chức sản xuất gạch, kết cấu bê tông để xây dựng hàng loạt nhà 1 tầng cấp 4 thay thế các nhà tạm, nhà dột nát. Tháng 9 năm 1974, nhà K4 lắp ghép 4 tầng được khởi công xây dựng và 1 năm sau khánh thành, đã phân phối cho cán bộ giảng dạy và nhân viên. Đồng thời, Trường tích cực sửa chữa và bổ sung nhiều trang thiết bị mới phục vụ giảng dạy, học tập, NCKH. Ban Kiến thiết đã tận dụng sắt thép tiết kiệm được trong quá trình xây dựng khu trường mới, phối hợp với xưởng Cơ, sử dụng lao động thực hành của sinh viên để sản xuất hàng nghìn giường sắt, bàn học, bàn vẽ... Nhờ việc đẩy mạnh tăng gia, chăn nuôi và phối hợp chặt chẽ với Công ty ăn uống Hà Nội nên chất lượng, tiêu chuẩn bữa ăn của cán bộ, sinh viên được đảm bảo và ngày càng được cải thiện.
Trong thời gian này, số lượng gia đình cán bộ, công nhân viên trong trường lên tới gần 500 hộ, Nhà trường đã đề nghị với Thành phố cho thành lập Ban Đại diện tiểu khu, tiền thân của Ủy ban nhân dân phường Bách Khoa thuộc quận Hai Bà Trưng ngày nay.
Phong trào thể dục thể thao bắt đầu phát triển trở lại. Các đội bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ, bơi lội, điền kinh của sinh viên Trường luôn chiếm giải cao trong các trường đại học. Phong trào văn nghệ quần chúng không chỉ mang lại sự giải trí lành mạnh mà còn có tác dụng giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục thẩm mỹ sâu sắc cho cán bộ và sinh viên.
Từ năm 1974, khó khăn về cơ sở vật chất, về đời sống đã bớt căng thẳng, mọi hoạt động dần trở lại ổn định, Trường có điều kiện để tập trung vào nhiệm vụ nâng cao một bước chất lượng đào tạo, nghiên cứu.
Kế hoạch học tập, chương trình môn học từ K18 trở đi được nghiên cứu, xét duyệt kỹ lưỡng theo tinh thần: bố trí hợp lý các đợt phục vụ gắn với đào tạo, cân đối lại tỷ lệ kiến thức lý thuyết, thực hành, bài tập.
Trường tổ chức Hội nghị Sinh viên tiên tiến, ưu tú nhằm đẩy mạnh phong trào học tập, nhất là khâu tự học. Tiến hành một số hoạt động đối ngoại để tranh thủ sự giúp đỡ, trao đổi về chuyên môn với các trường đại học ở Liên Xô, các nước Đông Âu và Pháp. Để đẩy mạnh công tác NCKH và rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất, Trường đã tiến hành chế thử, chế mẫu một số sản phẩm ở quy mô nhỏ.
Đầu năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước vào giai đoạn cuối. Cuộc Tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975 diễn ra cực kỳ mau lẹ, đặc biệt là sau chiến thắng giải phóng Tây Nguyên. Thầy, trò Bách Khoa càng tin tưởng phấn khởi hăng say làm việc hoà với bước tiến quân thần tốc, táo bạo của Cách mạng miền Nam.
Mấy ngày trước 30 tháng 4 năm 1975, không khí vui mừng chiến thắng trào dâng ngay tại các giảng đường, phòng làm việc, ký túc xá.
Khi Đài Tiếng nói Việt Nam chính thức báo tin Sài Gòn đã được giải phóng, cán bộ, sinh viên toàn trường đã đổ ra đường. Khắp nơi tràn ngập cờ hoa, rộn ràng tiếng hát vui mừng chiến thắng.
Trên nóc nhà C1 trường ĐHBK Hà Nội, khẩu hiệu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" được kết bằng hàng nghìn bóng điện, đêm đêm rực sáng cả một khu vực phía Nam Hà Nội.
Đối với chúng ta, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn đã khép lại một thời kỳ vô cùng khốc liệt, nhưng cũng hết sức hào hùng. Trường ĐHBK Hà Nội cùng với đất nước thống nhất bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển mới.
****
Cho đến năm 1975, sau gần 20 năm xây dựng trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt và thử thách ác liệt của chiến tranh, trường ĐHBK Hà Nội đã không ngừng phấn đấu vươn lên và trưởng thành vượt bậc trong đào tạo và NCKH. Đó là kết quả của cả một quá trình trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi và rút kinh nghiệm của thầy trò Bách Khoa cùng với sự quan tâm, tạo điều kiện to lớn của Đảng và Nhà nước và sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các chuyên gia Liên Xô trong thời kỳ đầu.
Trường đào tạo cho đất nước 11.431 kỹ sư của 15 khoá đại học tập trung và 2.302 kỹ sư của 10 khoá tại chức thuộc 58 chuyên ngành, trong đó nhiều người thuộc diện cán bộ, học sinh... miền Nam tập kết. Ngoài ra, còn tổ chức bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật cho hơn 500 cán bộ lãnh đạo, quản lý và đoàn thể ở Trung ương và các địa phương. Trường ĐHBK Hà Nội cũng là một đơn vị có nhiều đóng góp, cống hiến xứng đáng trong phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu và chiến đấu cũng như thực hiện các nghĩa vụ xã hội khác đối với Thủ đô và cả nước. Cũng từ trường Bách Khoa, đã hình thành nên hệ thống ban đầu khối các trường đại học kỹ thuật ở nước ta.
Tiềm năng về đội ngũ và cơ sở vật chất của Trường lớn mạnh vượt bậc. Ở thời điểm năm 1975, trường ĐHBK Hà Nội đã có 762 cán bộ giảng dạy và phục vụ giảng dạy, trong đó 28,3% cán bộ giảng dạy đạt trình độ tiến sỹ, phó tiến sỹ. Đây là hành trang vô cùng quý báu của Trường trên chặng đường tiếp theo.
|