|
CÙNG ĐẤT NƯỚC ĐI LÊN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY)
Giai đoạn 1986 - 2001
Tình hình Nhà trường đầu thời kỳ đổi mới
Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước (nửa cuối những năm 80, đầu thập kỷ 90), cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đã tác động trực tiếp đến các trường đại học, làm trầm trọng thêm những yếu kém của ngành giáo dục nước nhà.
Vào những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước (nửa cuối những năm 80, đầu thập kỷ 90), cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đã tác động trực tiếp đến các trường đại học, làm trầm trọng thêm những yếu kém của ngành giáo dục nước nhà.
Cũng như các trường đại học khác, quy mô đào tạo của trường ĐHBK Hà Nội bị thu hẹp. Cho mãi tới năm học 1987-1988 chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chỉ ở mức 400 sinh viên. Cảnh quan nhà trường, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo ngày càng bộc lộ rõ sự xuống cấp, những hạn chế, tính cập nhật và sự hấp dẫn. Tài liệu, giáo trình thiếu cả về chủng loại lẫn số lượng. Các điều kiện triển khai thí nghiệm, thực hành, thực tập của sinh viên không được đảm bảo. Nhiều ngành đào tạo truyền thống không có sinh viên trong mấy năm liền. Một số ngành khác mà xã hội và người học có yêu cầu thì Trường lại chưa kịp chuẩn bị đủ điều kiện đáp ứng. Hàng trăm kỹ sư sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn đào tạo. Quan hệ hợp tác truyền thống với các trường đại học, viện nghiên cứu thuộc Liên Xô và các nước Đông Âu gặp nhiều khó khăn, có những lúc bị gián đoạn. Do sản xuất xã hội bị đình trệ, hoạt động NCKH và CGCN của Trường bị thu hẹp về phạm vi và địa chỉ ứng dụng. Kinh phí do Nhà nước cấp chỉ đủ chi trả lương cán bộ và trang trải một phần tiền điện, nước. Đời sống của cán bộ và sinh viên chật vật, khó khăn. Một bộ phận trong đội ngũ cán bộ thiếu an tâm công tác, tâm huyết nghề nghiệp ít nhiều bị giảm sút.
Trước tình hình này, Đại hội đại biểu Đảng bộ trường lần thứ XXI đã quyết định phương hướng công tác như sau:
"Nhiệm vụ chung của Đảng bộ ĐHBK Hà Nội trong những năm 1987-1989 là lãnh đạo mọi mặt công tác của nhà trường, phát huy hơn nữa tiềm lực khoa học và cơ sở vật chất để đảm bảo chất lượng của các hệ đào tạo đại học, trên đại học, giữ vững truyền thống cán bộ được đào tạo từ trường ĐHBK Hà Nội. Tổ chức tốt hơn, chỉ đạo sát hơn các công tác NCKH-LĐSX, hướng công tác này vào phục vụ 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng, gắn với việc phục vụ sản xuất và đời sống của Thủ đô Hà Nội, gắn với các chương trình hợp tác với khối SEV và các chương trình hợp tác Việt - Xô. Trên cơ sở đẩy mạnh NCKH-LĐSX, hoàn thành các hợp đồng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổ chức LĐSX và các dịch vụ tu bổ và làm mới các công trình xây dựng phục vụ cho đào tạo và các công tác khác của trường. Trong khi thực hiện các nhiệm vụ kể trên cần quán triệt và gắn với 10 chủ trương công tác lớn và 3 chương trình cải cách của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trong thời gian 1987-1990".
Nhớ lại và suy ngẫm về những năm tháng ấy, chúng ta càng tự hào về bản lĩnh phi thường của tập thể cán bộ và sinh viên Bách Khoa Hà Nội trong bối cảnh chính trị thế giới cũng như tình hình kinh tế - xã hội gặp muôn vàn khó khăn, phức tạp.
"Lửa thử vàng, gian nan thử sức", tập thể Nhà trường vững vàng, kiên định, bình tĩnh, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Thầy, trò Bách Khoa đoàn kết quyết tâm tháo gỡ khó khăn, thách thức, mạnh dạn đổi mới cách nghĩ, cách làm, năng động sáng tạo đi đầu thực hiện các chủ trương, mục tiêu và chương trình hành động của Đảng, Nhà nước và của ngành. Nhờ sự huy động có hiệu quả sức mạnh của nhiều nguồn lực và tiến hành đồng bộ những biện pháp thích hợp nên các chương trình công tác của các nhiệm kỳ Hiệu trưởng (1989-1994, 1994-1998 và tiếp theo) lần lượt được thực hiện với khối lượng và chất lượng năm sau cao hơn năm trước. Sự tiến bộ vượt bậc về nhiều mặt trong những năm đổi mới vừa qua, đặc biệt trong những năm cuối thế kỷ 20 là niềm khích lệ to lớn không chỉ đối với cán bộ, sinh viên Nhà trường, mà còn cả với bạn bè trong nước và quốc tế. Lễ hội truyền thống 30, 35, 40 và 45 năm thành lập Trường là sự biểu dương sinh động về tầm vóc, uy tín, cống hiến và những thành tích đổi mới to lớn trong tất cả các lĩnh vực công tác của trường ĐHBK Hà Nội.
Đổi mới công tác đào tạo thực hiện mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài"
Tăng cường quy mô đào tạo đại học và sau đại học
Cho mãi tới nửa cuối thập kỷ 80, do khó khăn chung của đất nước và những ràng buộc của cơ chế bao cấp, trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam vẫn tồn tại một nghịch lý, đó là: nhu cầu của tuổi trẻ được đào tạo ở bậc đại học và trên đại học thì lớn mà quy mô tuyển sinh của các trường lại bị thu hẹp.
Năm học 1986-1987, số lượng tuyển sinh đại học của Bách Khoa Hà Nội là 663 và đến năm 1987-1988 giảm xuống còn 564. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ giảng dạy ở thời điểm này có khoảng 900 người với hơn 600 kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề tham gia công tác quản lý, phục vụ đào tạo và NCKH. Tỷ lệ bình quân số sinh viên trên một cán bộ giảng dạy là quá thấp so với bất kỳ trường đại học nào trong khu vực và trên thế giới. Từ thực tế bất hợp lý này, Lãnh đạo Trường kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép trường ĐHBK Hà Nội được mở rộng quy mô đào tạo. Qua 5 phiên họp, kiến nghị của Trường được Bộ chấp thuận. Bốn năm học liền sau đó, số lượng tuyển sinh đại học hàng năm tăng lên mức trên dưới 800, trong đó có 400 thuộc hệ chính quy mở rộng. Đến năm học 1995-1996 là 1.500. Gần đây, mỗi khoá tuyển khoảng 3.500 sinh viên hệ đại học chính quy và hơn 1.000 sinh viên hệ tại chức. Đáng chú ý là, trong số sinh viên được tuyển mỗi năm, có không ít con em thuộc diện chính sách như gia đình thương binh, liệt sỹ, vùng sâu, vùng xa, đồng bào các dân tộc.
Việc mở rộng một cách hợp lý quy mô đào tạo hệ đại học đã có tác dụng cải thiện tích cực đối với tình hình Nhà trường. Trước hết, khắc phục được tình trạng "non tải" hoặc "không tải" so với khối lượng định mức ở một số ngành, một số khoa trước đây không có hoặc có rất ít sinh viên. Số giờ bình quân tính trên một cán bộ giảng dạy giữa tất cả các đơn vị đào tạo trong toàn trường không chênh lệch quá mức. Hoạt động đào tạo và phục vụ đào tạo ngày càng trở nên sôi động.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về đào tạo một số ngành nghề dưới bậc đại học phù hợp với chủ trương đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và nâng cao dân trí, từ năm học 1992-1993, được phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường mở hệ cao đẳng kỹ thuật với chỉ tiêu hàng năm khoảng 2.000 sinh viên từ số thi đại học đạt xấp xỉ điểm chuẩn. Bên cạnh đó, Trường và các khoa còn phối hợp với các ngành, các địa phương tổ chức đào tạo cử nhân cao đẳng phục vụ các yêu cầu riêng về nguồn nhân lực kỹ thuật của các đơn vị này. Cũng trong năm học này, Trường mở hệ đào tạo kỹ sư bằng 2.
Ý thức được vai trò, trách nhiệm của trường ĐHBK Hà Nội trong việc đào tạo chuyên gia công nghệ trình độ cao và bồi dưỡng nhân tài, Nhà trường đặc biệt quan tâm đẩy mạnh mảng đào tạo và bồi dưỡng sau đại học, mà một trong những ưu tiên trước hết là mở rộng quy mô đào tạo. Đây cũng được coi là biện pháp thiết thực nhất nhằm khai thác triệt để tiềm năng chuyên môn của đội ngũ cán bộ giảng dạy, gắn chặt hơn nữa hoạt động đào tạo với NCKH và CGCN, đồng thời từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối quá lớn về tỷ lệ số lượng giữa hệ đào tạo đại học và sau đại học. Chỉ tính riêng trong 6 năm trở lại đây, trường ĐHBK Hà Nội đã tuyển gần 300 nghiên cứu sinh, hơn 2.000 học viên cao học.
Ngoài ra, hàng nghìn cán bộ có trình độ đại học từ các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, sản xuất, dịch vụ đã được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ dưới nhiều hình thức khác nhau.
Phát triển ngành nghề đào tạo
Đồng thời với việc không ngừng củng cố các ngành đào tạo truyền thống, trong những năm gần đây trường ĐHBK Hà Nội đã mở một số ngành đào tạo mới theo hướng:
Tăng cường tính liên ngành như: Cơ tin, Vật lý tin học, Điện tử - Y sinh học, May và Thời trang...
Sử dụng công nghệ cao như: Kỹ thuật hàng không, Kỹ thuật tàu thuỷ...
Xây dựng trường ĐHBK Hà Nội không chỉ là trường đa ngành mà còn là trường đa lĩnh vực: Sư phạm kỹ thuật, Ngoại ngữ chuyên ngành...
Năm 2000-2001 Trường thực hiện đào tạo trên 90 chuyên ngành tại 14 khoa và 4 viện.
Đa dạng hoá các loại hình đào tạo
Cùng với hình thức đào tạo chính quy và tại chức tại Trường, hình thức liên kết đào tạo theo địa chỉ cũng được coi trọng. Ngoài các khoá đào tạo dài hạn, cấp bằng tốt nghiệp, Trường còn có những chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ngắn hạn, cấp chứng chỉ. Hình thức đào tạo kỹ sư bằng hai được mở rộng ra nhiều ngành. Bằng nguồn kinh phí tự có, từ năm 1998 trường ĐHBK Hà Nội mở lớp đào tạo Kỹ sư tài năng. Cũng trong thời gian này, với sự giúp đỡ của tổ chức đại học cộng đồng Pháp ngữ (AUF), của Chính phủ Pháp, chúng ta đã mở các lớp kỹ sư chất lượng cao trong khuôn khổ các Filière francophone và PFIEV.
Hợp tác quốc tế trong đào tạo theo các chương trình đào tạo của trường đối tác hay chương trình đào tạo phối hợp của ĐHBK Hà Nội và trường đối tác để nhận bằng cấp quốc tế hay cùng cấp bằng trên mọi trình độ: tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, cử nhân đại học và cử nhân cao đẳng được Nhà trường rất chú trọng. Tuỳ thuộc vào nguyện vọng và khả năng, sinh viên có thể tự chọn cho mình hình thức đào tạo phù hợp:
Chương trình đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp do đối tác nước ngoài chịu trách nhiệm.
Trường ĐHBK Hà Nội cùng với đối tác nước ngoài xây dựng chương trình đào tạo và cấp bằng tốt nghiệp.
Chương trình đào tạo của đối tác nước ngoài, trường ĐHBK Hà Nội cấp bằng.
Năm 2000-2001 Trường có hơn 2.000 sinh viên, học viên theo học các chương trình đào tạo quốc tế thuộc các hệ: cao đẳng, đại học và sau đại học (thạc sỹ).
Những ưu tiên cho mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo
Đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng các hệ đào tạo là mục tiêu xuyên suốt, chi phối toàn bộ các chủ trương và hoạt động của trường ĐHBK Hà Nội qua các giai đoạn phát triển và trong mỗi nhiệm kỳ Hiệu trưởng.
Trong thời kỳ cuối những năm 80 cho đến những năm đầu thập kỷ 90, quyết tâm của chúng ta là: dù khó khăn đến đâu vẫn phải đảm bảo chất lượng và giữ vững sự tín nhiệm của xã hội đối với sản phẩm đào tạo của trường ĐHBK Hà Nội. Khi đất nước ra khỏi khủng hoảng, khởi sắc đi lên, Trường chủ trương: Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao có đủ năng lực và điều kiện thích ứng với nền kinh tế thị trường và phục vụ đắc lực sự nghiệp "công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Chặng đường tiếp theo của Trường trong những thập niên đầu của thế kỷ 21 là hướng tới sự hội nhập khu vực và thế giới. Mục tiêu phấn đấu trong 15 - 20 năm tới là đạt chất lượng đào tạo và vị thế như các trường Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc), Đại học Khoa học công nghệ Postech (Hàn Quốc), Đại học Năng lượng Matxcơva, Đại học Kỹ thuật Bâuman (LB Nga), Đại học Công nghệ Tôkyô (Nhật Bản), Đại học Công nghệ Massachuset (Hoa Kỳ)...
Giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề lớn được trao đổi, thảo luận trong nhiều dịp, đặc biệt tại hội thảo về đào tạo đại học và sau đại học do Trường tổ chức năm 1995. Hai hội thảo này được đánh giá là "sự khởi động quan trọng cả về mặt chủ trương và biện pháp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo". Tại đây, những nội dung bức xúc như xác định mục tiêu, cải tiến nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, biên soạn giáo trình, quản lý cán bộ và sinh viên, thanh tra giáo dục, cũng như tạo ra các nguồn động lực mới trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt... đã được đề cập và thảo luận trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng. Trong số việc "cần làm ngay", công tác quản lý được coi như khâu đột phá.
Trên cơ sở rà soát lại toàn bộ nội dung, chương trình đào tạo của từng ngành và qua nghiên cứu, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của nhiều trường đại học công nghệ trên thế giới, trường ĐHBK Hà Nội đã thực hiện những bước đổi mới tích cực theo phương châm: cơ bản, hiện đại và thực tế. Sự phân bố thời gian học tập giữa các môn cơ bản, kỹ thuật cơ sở và kỹ thuật chuyên ngành đối với hệ đại học đã có những điều chỉnh phù hợp hơn đối với yêu cầu đào tạo ngành rộng. Mạnh dạn cắt bỏ một số môn học có nội dung trùng lặp và thay vào đó là những môn học mới. Thời lượng của mỗi môn học được quy đổi theo đơn vị học trình. Điều chỉnh những bất hợp lý trong chương trình đào tạo của giai đoạn 3 năm cuối, đồng thời xây dựng và ổn định kế hoạch học tập 2 năm đầu theo khung 7 chương trình đào tạo của Bộ. Trong quá trình thực hiện đổi mới đào tạo, chúng ta luôn luôn bám sát mục tiêu: sâu về kiến thức cơ bản, vững về kỹ thuật cơ sở, tạo tiền đề cho sinh viên có thể tiếp thu tốt kiến thức chuyên ngành, cũng như vận dụng vào công tác sau này. Những năm cuối thế kỷ XX, Nhà trường đã chỉ đạo và tổ chức viết mới 800 bộ đề cương môn học cho hệ đại học. Trên 400 giáo trình, sách giáo khoa, sổ tay tham khảo được in tại Trường và tại các nhà xuất bản khác phục vụ rộng rãi cán bộ, sinh viên trong và ngoài trường. Bổ sung hàng nghìn đầu sách và tạp chí cho thư viện. Thành lập phòng đọc sau đại học.
Ngoài ra, Trường tiến hành xây dựng chương trình chuẩn cho các môn, trước tiên là Tin học và Ngoại ngữ, kế đó là môn Toán, cuối cùng là các môn kỹ thuật cơ sở và chuyên ngành cho hệ đại học. Trong năm 2000, trường ĐHBK Hà Nội bắt đầu triển khai thực hiện kế hoạch đổi mới một cách căn bản công tác đào tạo và bồi dưỡng sau đại học. Nội dung của kế hoạch này bao gồm: xác định mục tiêu và các mã ngành đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ (PTS trước đây); khung chương trình; cơ cấu và thời lượng các môn học; biên soạn đề cương chi tiết các môn học.
Với sự tham gia của các khoa và các viện, công tác quản lý sinh viên ở giai đoạn 3 năm cuối khoá đang dần đi vào nề nếp sau khi cơ chế quản lý 3 cấp được thiết lập lại. Hoạt động thanh tra giáo dục được tăng cường và ngày càng phát huy hiệu lực. Kỷ cương đào tạo được quan tâm củng cố đặc biệt đối với hệ cử nhân cao đẳng. Trường cũng thực hiện từng bước phân cấp quản lý đào tạo theo hướng tăng cường trách nhiệm cho các đơn vị quản ngành. Công tác quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật đã có những cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, phục vụ công tác đào tạo và NCKH.
Đồng thời với việc xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của thầy và trò, Lãnh đạo Nhà trường rất chú trọng tới việc tạo thêm những động lực mới cho phong trào thi đua "dạy tốt - học tốt" bằng các chế độ khuyến khích nội bộ.
|