Lịch sử trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
20/09/2006

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, BẢO VỆ MIỀN BẮC VÀ ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM (1965-1975)

 

Hoạt động của Trường chuyển từ thời bình sang thời chiến và sơ tán lần thứ nhất

Ngày 5/8/1864, đế quốc Mỹ dựng lên cái gọi là "Sự kiện vịnh Bắc Bộ", dùng hải quân, không quân đánh phá một số địa điểm trên miền Bắc. Bộ Giáo dục và Thành uỷ Hà Nội chỉ thị Nhà trường phải khẩn trương chuyển mọi hoạt động theo tình thế mới, cố gắng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ năm học đồng thời tích cực làm tốt công tác phòng không, chuẩn bị sẵn sàng để khi có lệnh thì nhanh chóng phân tán, sơ tán ra khỏi Hà Nội.

Đảng uỷ giao trách nhiệm cho Thường vụ Đảng uỷ, Ban Giám hiệu bám sát sự chỉ đạo của cấp trên và chủ động khai thác kịp thời những thông tin, dự báo tình hình để chỉ đạo, điều hành kịp thời.

Trong giai đoạn này, đế quốc Mỹ ngày càng mở rộng chiến tranh, leo thang đánh phá ác liệt miền Bắc hòng "đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá". Để duy trì được hoạt động đào tạo cán bộ kỹ thuật với số lượng ngày càng nhiều phục vụ cho các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngay từ đầu năm học 1964-1965, Trường chuẩn bị sẵn sàng chuyển hướng đào tạo từ điều kiện thời bình sang thời chiến, từ đào tạo tập trung tại Hà Nội sang sơ tán, phân tán ở nhiều nơi theo phương châm vừa học, vừa làm, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Cuối tháng 4 năm 1965, đồng thời với việc tích cực làm công tác tư tưởng cho cán bộ, sinh viên và xây dựng nếp sống thời chiến, Lãnh đạo Nhà trường ra quyết định thành lập Tiểu ban phòng không và Tiểu ban sơ tán. Sau đó, cuối tháng 6 năm 1965, Trường tổ chức đưa các cháu nhỏ là con em của các thầy giáo, cán bộ công nhân viên sơ tán đến xã Khắc Niệm, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Sau 2 tháng, chuyển đến xã Bắc Lý, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc và liên hệ địa điểm sơ tán cho toàn trường tại 2 xã gần đó.

Sau khi xem xét, cân nhắc từ nhiều phương diện, đặc biệt là vấn đề đảm bảo tuyệt đối an toàn lâu dài, cuối cùng đại bộ phận thầy trò trường ĐHBK Hà Nội gồm hơn 7.000 người cùng hàng trăm tấn thiết bị, đồ dùng học tập, trong đó có một phần thiết bị quý hiếm vừa được trang bị cho khu trường mới, thực hiện cuộc hành quân lịch sử rời Hà Nội (khu A) lên Lạng Sơn. Tại nơi sơ tán, cơ ngơi của Trường gồm các lớp học, nhà làm việc, nhà ở được dựng lên bằng tranh, tre, nứa, lá rải rác trên địa hình phân tán, hiểm trở bao gồm gần 30 bản thuộc 6 xã, theo chiều dài khoảng 20 km và chiều rộng 8 km, dọc theo 2 bờ sông Kỳ Cùng, trên địa bàn 2 huyện Văn

Lãng và Tràng Định, lập thành khu C, lấy bí danh là "Trường văn hoá Hà Huy Tập".

Khu C được chia thành nhiều H: H1 - khoa Hoá, H2 - khoa Điện, H3 - khoa Xây dựng, H4 - khoa Mỏ-Địa chất, H5 - khoa Cơ khí - Luyện kim, H6 - khoa Kỹ sư kinh tế, H7 - Xưởng cơ và kho, H8 - khoa Đại học Tại chức, các bộ môn Khoa học cơ bản và H9 là Hiệu bộ, do Phó Hiệu trưởng Nguyễn Thọ phụ trách. Sau một thời gian, khoa Xây dựng rời H3 chuyển về 2 huyện Quế Võ và Gia Lương, tỉnh Hà Bắc. Khoa Luyện kim sau khi tách thành Khoa độc lập từ Liên khoa Cơ khí - Luyện kim (trong năm học 1966-1967) tiếp quản H3.

Trong lúc đó ở Hà Nội, trường ĐHBK Hà Nội là một trong những trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Đối phó với tình hình này, Nhà trường đã sớm tổ chức 1 tiểu đoàn tự vệ gồm cán bộ công nhân viên cùng một số thầy giáo và sinh viên tiên tiến. Ngoài nhiệm vụ tuần tra canh gác, bảo vệ Trường, phục vụ các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu khi bị địch oanh tạc, tiểu đoàn tự vệ còn được quân đội giúp đỡ xây dựng 3 trận địa súng cao xạ phòng không 14,5 ly ngay trên nóc các nhà C1, C9 và A1, A2, A3. Các trận địa này đã tham gia hiệu quả nhiều trận chiến đấu, góp phần tạo nên lưới lửa phòng không tầm thấp của quân dân Hà Nội đánh trả quyết liệt máy bay phản lực Mỹ trên bầu trời Thủ đô. Đây còn là thao trường đào tạo sỹ quan dự bị binh chủng Phòng không cho nhiều khoá sinh viên tốt nghiệp sau này. Trong 5 lần máy bay Mỹ oanh tạc Bách Khoa, chúng đã trút xuống Trường hàng trăm quả bom các loại làm 15 cán bộ và sinh viên thiệt mạng, hàng chục gian nhà bị phá trụi.

Trong tình hình "nước sôi lửa bỏng", giữa năm 1966 trường ĐHBK Hà Nội phải chia tay với Hiệu trưởng Hoàng Xuân Tuỳ được Đảng và Chính phủ bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Đại học và THCN. Trong tâm khảm của các thế hệ cán bộ, sinh viên Bách Khoa, Hiệu trưởng Hoàng Xuân Tuỳ được coi là một trong những người có công đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển Nhà trường.

Người kế nhiệm Hiệu trưởng Hoàng Xuân Tuỳ là Phó Hiệu trưởng Phạm Đồng Điện.

Cũng trong dịp cuối năm 1965, đã diễn ra sự kiện trọng đại khác đối với Trường. Đúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 48 Cách mạng Tháng Mười Nga, Lễ khánh thành và bàn giao khu trường mới được long trọng tổ chức. Về phía Việt Nam có Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Đại học và THCN Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Đại học và THCN Hoàng Xuân Tuỳ, Hiệu trưởng vừa được bổ nhiệm Phạm Đồng Điện, Bí thư Đảng uỷ Bùi Nguyên Cát, đại biểu các cơ quan cùng đại diện cán bộ và sinh viên. Về phía bạn có đoàn đại biểu do Bộ trưởng Bộ Đại học và THCN Liên Xô Êliuchin dẫn đầu. Việc khánh thành và đưa vào sử dụng khu trường mới đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển ĐHBK Hà Nội.

Trong tình hình mới, cán bộ, đảng viên, sinh viên thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Trường lần thứ IX:

Bất kỳ trong tình huống nào công tác đào tạo của Trường vẫn phải phát triển về số lượng và không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện để phục vụ nhiệm vụ chính trị chống Mỹ cứu nước, nhiệm vụ xây dựng CNXH trước mắt và lâu dài, gắn liền nội dung giảng dạy và nghiên cứu khoa học với cuộc cách mạng kỹ thuật, sao cho cán bộ đào tạo ra thích ứng với yêu cầu của việc chuyển hướng kinh tế, cải tiến quản lý kinh tế và tăng cường khả năng quốc phòng, đồng thời chuẩn bị điều kiện để thực hiện cải cách giáo dục nâng cao trình độ đào tạo của Nhà trường trong thời gian tới.

Trong những năm 1965 đến 1975, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và hưởng ứng phong trào "Ba sẵn sàng", gần 200 cán bộ và 2.700 sinh viên lần lượt nhập ngũ với quyết tâm:

Ra đi chỉ một lời thề

Chiến thắng giặc Mỹ mới về Bách Khoa

Chính lực lượng này của Bách Khoa đã bổ sung kịp thời một số đáng kể cán bộ kỹ thuật cho quân đội, nhất là đối với các binh chủng kỹ thuật như Không quân, Phòng không, Cơ giới, Công binh, Thông tin...

Không ít cán bộ và sinh viên Bách Khoa đã lập những chiến công xuất sắc, nêu gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng như Anh hùng Trần Thanh Hải, Anh hùng liệt sỹ Vũ Xuân Thiều (binh chủng Không quân) - người đã lái chiếc

Mig-21 lao thẳng vào pháo đài bay B52 trong đêm 25 tháng 12 năm 1972, Anh hùng liệt sỹ Bùi Ngọc Dương (binh chủng Công binh) - người đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Khe Sanh năm 1968. Trước khi nhắm mắt, Anh đã dặn lại đồng đội báo cáo với trường Bách Khoa là "Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ Trường giao cho"...

Đồng thời với việc duy trì hoạt động giảng dạy, học tập tại các khu sơ tán, phục vụ chiến đấu và chiến đấu, trong hai năm học 1965-1966, 1966-1967 Trường tiếp tục tuyển sinh khoá 10 và khoá 11 với tổng số 1.955 sinh viên (K10: 755, K11: 1.200), 400 chuyên tu, 300 dự bị đại học, 1.360 sinh viên tại chức và hoàn thành việc phân phối công tác cho 2.600 kỹ sư khoá 5, khoá 6.

Từ năm học 1965-1966, thực hiện Nghị quyết 142/NQTW của Bộ Chính trị, Ban Dự bị đại học của Bách Khoa Hà Nội được thành lập với nhiệm vụ bồi dưỡng văn hoá cho những đối tượng thuộc diện chính sách như con em liệt sỹ, dân tộc ít người, gia đình có công với cách mạng; Anh hùng Lao động, Anh hùng Quân đội, thương binh v.v.. Trong thời kỳ sơ tán, Ban Dự bị đại học lúc đầu đóng tại xã Bắc Lý, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc (khu B). Hơn 300 cán bộ, thầy cô giáo và học viên phân tán ở các nhà dân. Một năm sau chuyển về khu Đ thuộc xã Lực Điền, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

 

untitled2  kmau5

Hoàn thành xây dựng khu trường mới

  Tiết mục múa nón của sinh viên tại khu C

Trước yêu cầu phát triển của ngành đại học, trong năm học 1966-1967, Chính phủ quyết định tách 2 khoa Xây dựng và Mỏ-Địa chất từ trường ĐHBK Hà Nội để thành lập trường Đại học Xây dựng do thầy Nguyễn Sanh Dạn làm Hiệu trưởng và trường Đại học Mỏ-Địa chất do thầy Đặng Xuân Đỉnh làm Hiệu trưởng.

Bước sang năm học 1967-1968, các bộ môn Dệt (khoa Cơ khí) và Thực phẩm (khoa Hoá) tách ra thành lập Phân hiệu Công nghiệp nhẹ đóng ở Khoái Châu, Hưng Yên, sau chuyển về Việt Trì. Đến năm 1977, trường Đại học Công nghiệp nhẹ được nhập trở lại với trường ĐHBK Hà Nội.

Cũng trong năm 1967, Trường lập thêm các khoa Toán - Lý, Động lực, Vô tuyến điện; tách khoa Cơ khí - Luyện kim thành 2 khoa Cơ khí và Luyện kim; mở thêm 9 ngành học mới.

Ngoài ra, Trường giúp thành phố Hà Nội và Hải Phòng mở các Phân hiệu Đại học Bách Khoa tại chức nhằm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu đào tạo cán bộ công nhân viên của các địa phương này.

Giữa năm 1967, Ban Giám hiệu và đại bộ phận cán bộ quản lý tập trung lên khu C. Hoạt động ở khu sơ tán ổn định hơn.

Năm học 1967-1968 và 1968-1969, Trường tuyển sinh khoá 12 và 13 với số lượng hơn 2.200 sinh viên, đưa tổng số sinh viên chính quy lên gần 5.000.

Trong 2 năm 1967 và 1968, 100 cán bộ giảng dạy của Trường được cử đi làm nghiên cứu sinh và thực tập sinh ở nước ngoài.

Đến năm 1968, trường ĐHBK Hà Nội đã có 9 khoa: Điện, Vô tuyến điện, Cơ khí, Động lực, Luyện kim, Hoá, Kỹ sư Kinh tế, Toán - Lý, Đại học Tại chức với 32 ngành đào tạo. Trong những năm này, Nhà trường tiếp tục được công nhận là đơn vị tiên tiến của ngành đại học. Khoa Điện, Vô tuyến điện và 16 bộ môn đạt danh hiệu Tổ lao động XHCN.